Trang chủ Văn hóa - Lịch sử Tiến trình vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam

Tiến trình vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam

408
0

Hướng tới 40 năm thành lập GHPGVN, Giác Ngộ Online giới thiệu đến Tăng Ni, Phật tử, độc giả hồ sơ tư liệu tập hợp có hệ thống các tài liệu và sưu khảo từ những ngày đầu tiên công cuộc thống nhất Phật giáo diễn ra, do Báo Giác Ngộ thực hiện.

Sau ngày 30-4-1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, giang san quy về một mối. Trong bối cảnh như vậy, đó là điều kiện thuận lợi cho Phật giáo Việt Nam tiến hành công cuộc thống nhất trên cả nước, quy tập các tổ chức hệ phái về “Ngôi nhà chung” của Giáo hội nhằm phát huy sức mạnh hoằng pháp độ sinh.

Cuộc họp mặt lịch sử

Trong hai ngày 12 và 13-2-1980, chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo các tổ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước đã có cuộc gặp gỡ tại TP.HCM. Hiện diện trong cuộc gặp lịch sử này có các vị cao tăng như: Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Quyền Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam; Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Chánh Thư ký Viện Tăng thống GHPGVN Thống nhất; Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVN Thống nhất; Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM; Hòa thượng Thích Thế Long, Phó Hội trưởng kiêm Tổng Thư ký Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam; Hòa thượng Thích Giác Tánh, Hòa thượng Thích Trí Nghiêm, Thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương GHPGVN Thống nhất; Hòa thượng Thích Thiện Hào, Phó Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM; Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVN Thống nhất; Hòa thượng Thích Bửu Ý, Viện trưởng Viện Hoằng đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Tăng thống Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam; Thượng tọa Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh; Thượng tọa Thích Từ Hạnh, Tổng Thư ký Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM; Thượng tọa Thích Thanh Tứ, Chánh Văn phòng Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam; Thượng tọa Thích Giác Toàn, Thường trực Trung ương Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam; Ni sư Huỳnh Liên, Ni trưởng Ni giới Khất sĩ Việt Nam; Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện, Cư sĩ Võ Đình Cường và Cư sĩ Tống Hồ Cầm.

Sáng ngày 12-2-1980, trước lúc khai mạc phiên họp, các ông Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Trần Bạch Đằng, Phó Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương và Phạm Quang Hiệu, Ban Tôn giáo Chính phủ đến thăm và nói chuyện. Trong cuộc trao đổi, ông Nguyễn Văn Linh nói rằng đây là buổi gặp mặt đầu tiên của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với giới lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, và ông tỏ ý tiếc cuộc gặp gỡ không được diễn ra sớm hơn, bởi vì tình hình đất nước sau ngày giải phóng gặp nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết.

Ông Nguyễn Văn Linh đã dành phần lớn thời gian để trình bày về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Phật giáo và nói về nhiệm vụ của Phật giáo đối với dân tộc. Ông nói rằng người cộng sản Việt Nam, người đầu tiên là Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì lòng yêu nước, vì mục đích giải phóng dân tộc đã tìm ra con đường cộng sản chủ nghĩa. Người cộng sản Việt Nam quan niệm đạo Phật cũng là con đường cứu khổ cứu nạn dân tộc. Tuy đường lối và phương tiện có khác, nhưng vẫn có mục đích chung là mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Đạo Phật hiện diện trên đất nước ta gần 2.000 năm, lớn lên trong lòng dân tộc, gắn bó với sự tồn vong của dân tộc.

Người cộng sản Việt Nam xem đạo Phật là một tôn giáo của dân tộc, và trong khi đấu tranh cho hạnh phúc của dân tộc, người cộng sản Việt Nam xem người Phật tử Việt Nam như là những người bạn đường, đồng chí trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Phát biểu về nhiệm vụ của người Phật giáo đối với dân tộc, ông nói: “Lịch sử giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo dân tộc, với sứ mạng đó, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam và đồng bào Phật tử sẽ phát huy truyền thống yêu nước của mình, tiếp tục đi theo con đường cách mạng, để góp phần vào sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.

Hòa thượng Thích Trí Thủ thay mặt toàn thể các vị trong buổi họp mặt phát biểu cảm ơn, bày tỏ niềm xúc động trước quan điểm và thái độ chân thành của các vị đại diện Đảng và Nhà nước, Hòa thượng nói: “Đạo Phật và dân tộc gắn liền nhau trong lịch sử. Từ khi du nhập đến nay, đạo Phật xem dân tộc Việt Nam là quê hương. Tôi rất xúc động trước những lời phát biểu các vị đại diện Đảng và Chính phủ, và hy vọng những điều đó sẽ được thực hiện tốt đẹp”.

Về vấn đề thống nhất Phật giáo, Hòa thượng khẳng định: “Hôm nay nước nhà đã độc lập thống nhất, Phật giáo không có lý do gì lại duy trì sự phân hóa về mặt tổ chức và sự chia cắt Bắc Nam”.

Hòa thượng Thích Đôn Hậu phát biểu: “Thực hiện đại đoàn kết là việc cần thiết đối với Phật giáo cũng như đối với dân tộc. Nguyện vọng của tôi trước sau như một là cần thực hiện thống nhất Phật giáo”.

Trước nguyện vọng thống nhất Phật giáo, ông Trần Bạch Đằng đã phát biểu quan điểm của Đảng và Nhà nước, ông nói: “Việc thống nhất Phật giáo nên hay không nên trong lúc này, và cần phải thống nhất như thế nào, quý vị hoàn toàn tự định đoạt lấy. Đảng và Nhà nước sẵn sàng quan tâm giúp đỡ khi được yêu cầu”.

Tại phiên họp buổi chiều, hoàn toàn có tính cách nội bộ Phật giáo. Toàn thể buổi họp đồng tâm suy cử Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận và Hòa thượng Thích Đôn Hậu, chứng minh buổi họp; Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích Minh Nguyệt chủ tọa điều hành buổi họp. Thượng tọa Thích Minh Châu, Thượng tọa Thích Từ Hạnh và Thượng tọa Thích Thanh Tứ làm Thư ký.

Buổi họp mặt đã quyết định thành lập “Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam” (gọi tắt là Ban Vận động) có nhiệm vụ vận động nghiên cứu thực hiện công cuộc thống nhất Phật giáo nước nhà. Ban Vận động là tiêu biểu cho tiếng nói chung của Phật giáo VN. Thành phần Ban Vận động bao gồm các giáo phẩm lãnh đạo các tổ chức, hệ phái Phật giáo và nhân sĩ Phật giáo hiện diện trong buổi họp mặt này, sẽ tiếp tục mời bổ sung vào.

Ban Vận động sẽ chính thức ra mắt tại thủ đô Hà Nội, TP.HCM và cố đô Huế.

Cả ngày 13-2-1980, các vị tham gia phiên họp đã làm việc, trao đổi, bàn bạc, góp ý sửa chữa nội dung dự thảo thông bạch, và kiến nghị gởi Chính phủ và Mặt trận.

Buổi họp tiếp tục bàn những vấn đề chung quanh nhiệm vụ Ban Vận động, bổ sung nhân dự và quyết định xin đặt trụ sở và văn phòng thường trực Ban Vận động tại chùa Quán Sứ – Hà Nội và chùa Xá Lợi – TP.HCM.

Cũng trong phiên họp chiều ngày 13-2-1980, buổi họp mặt có vinh hạnh được đón tiếp Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Thủ tướng Chính phủ; Giáo sư Nguyễn Văn Chì, Chủ tịch UB MTTQVN TP.HCM, Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận TP.HCM, đến thăm viếng và tán thán công việc của các vị lãnh đạo Phật giáo đang làm.

Tiến trình vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam

Ban Vận động được thành lập với các chức danh: Trưởng ban: Hòa thượng Thích Trí Thủ; Các Phó Trưởng ban: Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Mật Hiển, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thế Long; Ủy viên Thường trực: Hòa thượng Thích Thiện Hào; Chánh Thư ký: Thượng tọa Thích Minh Châu; Phó Thư ký: Thượng tọa Thích Từ Hạnh, Thích Thanh Tứ; Các Ủy viên: Hòa thượng Thích Giác Tánh, Hòa thượng Thích Trí Nghiêm, Hòa thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Châu Mum, Thượng tọa Thích Thanh Trí, Thượng tọa Thích Chánh Trực, Thượng tọa Thích Giác Toàn, NS.Huỳnh Liên, Cư sĩ Nguyễn Văn Chế, Cư sĩ Võ Đình Cường và Cư sĩ Tống Hồ Cầm.

Tiến trình vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ảnh 1
Ông Hoàng Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương thăm và nói chuyện về tình hình đất nước với Ban Vận động tại chùa Quán Sứ – Ảnh Tư liệu của Báo Giác Ngộ

Ban Vận động đã ra mắt ngày 9-4-1980 tại chùa Quán Sứ (Hà Nội). Tại buổi lễ ra mắt, Hòa thượng Thích Trí Thủ đã tuyên đọc thông bạch của Ban Vận động gởi Tăng Ni, Phật tử cả nước và sau đó, toàn Ban Vận động đã ra mắt các vị Tăng Ni, Phật tử thủ đô.

Ngày 15-5-1980, tại chùa Xá Lợi, Ban Vận động đã làm lễ ra mắt trước đông đảo Tăng Ni, Phật tử TP.HCM. Tại buổi lễ, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt đã đọc diễn văn khai mạc và Hòa thượng Thích Trí Thủ đã tuyên đọc thông bạch của Ban Vận động, khẳng định bối cảnh nước nhà đã thống nhất là vận hội mới mở đường cho thống nhất Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Thượng tọa Thích Giác Toàn, đại diện các tổ chức, hệ phái đã phát biểu bày tỏ hoan hỷ và cảm xúc, nhất trí hoàn toàn với việc thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Trong ngày 23-5 và 24-5-1980, Ban Vận động đã tổ chức ra mắt tại giảng đường chùa Từ Đàm, Huế và nhận được sự đồng thuận của tất cả Tăng Ni, Phật tử cố đô.

Sau khi lễ ra mắt thành công tốt đẹp, tại Hà Nội, TP.HCM và Huế – mùa thu tháng 8-1980, Ban Vận động đã có cuộc mạn đàm thân mật với 140 đại biểu nhân sĩ, trí thức, Phật tử thuộc nhiều giáo phái tại chùa Vĩnh Nghiêm (TP.HCM) do Hòa thượng Thích Trí Thủ chủ trì. Nội dung cuộc mạn đàm xoay quanh vấn đề thống nhất Phật giáo Việt Nam, những tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp, các hệ phái đa số đều nói lên những suy nghĩ chân tình trước tình hình thống nhất Phật giáo cùng những băn khoăn như chương trình tu học của Tăng Ni, tính biệt truyền của hệ phái; vấn đề hệ thống và cơ cấu tổ chức của Phật giáo Việt Nam sau khi thống nhất, vấn đề quản lý chùa chiền, quản lý Tăng, Ni…

Ngày 16-1-1981, Hội nghị kỳ 2 của Ban Vận động đã tiến hành tại Hà Nội. Hòa thượng Thích Trí Thủ đã đọc diễn văn khai mạc, nêu rõ quyết tâm tiến hành sớm việc thống nhất Phật giáo Việt Nam trong năm 1981. Hội nghị đã thảo luận chương trình hoạt động của Ban trong năm 1981.

Từ ngày 15-3 đến 24-3-1981, Ban Vận động đã lần lượt đến thăm và tiếp xúc 9 hệ phái gồm: Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam, Hội Phật học Nam Việt, Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam, GHPGVN Thống nhất, Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam, Thiên Thai Giáo Quán tông; Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM; Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam và Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ.

Các cuộc tiếp xúc đã diễn ra giữa Ban Vận động và các hệ phái trong bầu không khí cởi mở, chân tình và thẳng thắn. Mọi tâm trạng, tư tưởng của quý vị đều nhìn về một hướng, đó là thống nhất Phật giáo Việt Nam là lựa chọn duy nhất và phù hợp nhất trong bối cảnh nước nhà đã thống nhất trọn vẹn, có còn chăng là những ưu tư thứ yếu mà trong quá trình thống nhất sẽ được đồng nhất hoặc cởi bỏ cho phù hợp với tình hình.

Ngày 5-8-1981, tại chùa Xá Lợi (Q.3, TP.HCM), Hội nghị kỳ 3 của Ban Vận động đã họp phiên toàn thể. Đây là hội nghị cuối cùng của Ban Vận động trước khi hội nghị thành lập GHPGVVN diễn ra vào đầu tháng 11-1981. Hội nghị đặt dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đức Nhuận và chủ trì của Hòa thượng Thích Trí Thủ cùng các vị giáo phẩm trong Ban Thường trực. Phía khách mời có các ông Nguyễn Quang Huy, Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ; Ung Ngọc Ky, Ủy viên Thường trực UBMTTQVN TP.HCM.

Mục đích của Hội nghị kỳ III lần này là để các vị trong Ban Vận động, lãnh đạo các hệ phái góp ý kiến, thảo luận các phương thức và đường lối thống nhất Phật giáo Việt Nam. Hội nghị đã thảo luận góp ý kiến về bản dự thảo văn kiện thống nhất Phật giáo cùng nội dung tổ chức Hội nghị đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam. Với 4 ngày làm việc trong tình đoàn kết, cảm thông và xây dựng, Hội nghị kỳ III đã thành công viên mãn trong niềm tin mãnh liệt vào tiền đồ rạng rỡ của Phật giáo Việt Nam.

Sáng ngày 9-10-1981, tại chùa Xá Lợi đã diễn ra cuộc họp mặt Tăng Ni, Phật tử TP.HCM với Ban Vận động và sự phối hợp của Ban Vận động TP.HCM nhằm chuẩn bị tiến tới Hội nghị đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 4-11-1981. Cuộc họp mặt quy tụ trên 1.000 Tăng Ni, Phật tử tiêu biểu của các hệ phái, tổ chức Phật giáo.

Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Trưởng ban Nội dung đọc lời đúc kết các ý kiến đóng góp trong cuộc họp, nói lên được tính nhất quán cao độ và sâu sắc của toàn thể Tăng Ni, Phật tử hiện diện đối với công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Trong gần hai năm, Ban Vận động đã tích cực làm tốt vai trò của mình, thu thập ý kiến của Ban Lãnh đạo các tổ chức, hệ phái Phật giáo trên cả nước để soạn thảo văn kiện căn bản cho sự thống nhất; đồng thời tổ chức hội nghị đại biểu các hệ phái, thảo luận, biểu quyết các văn kiện và thành lập Ban Lãnh đạo Trung ương Lâm thời để triển khai thành lập cơ cấu tổ chức các tỉnh thành. Con đường đó dù có nhiều thuận lợi vì có cùng một điểm chung, đó là nguyện vọng thống nhất Phật giáo trong bối cảnh đất nước thống nhất, độc lập, một sự thống nhất thực sự với trọn vẹn ý nghĩa của nó, nhưng không phải là không gặp một vài sự khó khăn. Nói như Hòa thượng Thích Trí Thủ trong trả lời phỏng vấn Báo Giác Ngộ trước thềm hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam, “Chân lý bao giờ cũng thắng”.

Thống nhất Phật giáo Việt Nam không chỉ là nguyện vọng mà hơn thế nữa, đó là chân lý tất yếu của Phật giáo Việt Nam, “có thống nhất Phật giáo mới đoàn kết được toàn thể Tăng Ni, Phật tử cả nước” để thực hiện những Phật sự trọng đại của Phật giáo Việt Nam, như báo cáo của Thượng tọa Thích Minh Châu về sứ mệnh của Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam

Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập vào ngày 7-11-1981 tại Hà Nội, là kết tinh trí tuệ và nguyện vọng của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam sau thời gian vận động thống nhất các tổ chức, hệ phái trong cả nước.

Phật giáo du nhập Việt Nam rất sớm, đầu kỷ nguyên Tây lịch, trực tiếp từ Ấn Độ. Trong giai đoạn đầu, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc, làm phong phú cho nội dung của nền văn hóa bản địa.

Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ảnh 1

Liên hoa đài thuộc chùa Diện Hựu ở kinh thành Thăng Long – Ảnh tư liệu

Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc xây dựng đất nước cũng như chống ngoại xâm. Truyền thống đó được tiếp nối qua các thời đại, tô bồi cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Với tinh thần khế cơ khế lý, Phật giáo cũng có những vận động, chuyển mình đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Trong quá trình phát triển đó không thể quên những dấu ấn thống nhất Phật giáo như những dấu son trong trang sử của Phật giáo VN.

Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm thời Trần

Sau hơn một ngàn năm kể từ khi du nhập, Phật giáo qua các giai đoạn vận động, đã trở thành tư tưởng chủ đạo đem lại nguồn sinh lực nuôi dưỡng ý thức độc lập tự chủ dân tộc.

“Trong hơn hai ngàn năm hiện diện trên đất nước VN, đồng hành cùng dân tộc, đạo Phật đã trở thành tôn giáo của dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa ngày nay, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là thành viên tin cậy và vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. (Trích Lời nói đầu Hiến chương GHPGVN)

Từ nền tảng Phật giáo quyền năng, dần dần tư tưởng căn bản của Phật giáo đã đi vào đời sống văn hóa, giáo dục, phát triển trở thành tư tưởng vị nhân sinh, gắn liền với yêu cầu cụ thể của lịch sử, tiếp sức sống mãnh liệt cho tinh thần quật cường của toàn dân trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, xây dựng đất nước thái bình.

Đỉnh cao của tinh thần đó là ở thời nhà Trần. Và cũng chính trong giai đoạn này, Phật giáo lần đầu tiên có sự thống nhất, với danh xưng Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử do Trúc Lâm Đại đầu đà Trần Nhân Tông (1258-1308) chủ trương.

Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử thực sự là một tổ chức Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên trong lịch sử Phật giáo VN, dung hợp các dòng thiền hình thành trước đó cũng như đương thời.

Tư tưởng Phật giáo của Giáo hội thời bấy giờ được Điều ngự Giác hoàng thiết định là nền Phật giáo nhập thế, phục vụ dân tộc và xây dựng một xã hội lành mạnh theo nền tảng của mười thiện nghiệp – những nguyên tắc đạo đức căn bản của Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng ấy được thể hiện qua những tác phẩm quan trọng được lưu truyền cho đến ngày nay, đó là Cư trần lạc đạo phú  Ðắc thú lâm tuyền thành đạo ca, thiết thực hiện tại, gắn liền với việc cải thiện chất lượng sống, an sinh xã hội.

Với vai trò đặc biệt của Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, vị minh quân từ bỏ ngai vàng xuất gia trở thành thiền sư, việc thống nhất Phật giáo đã diễn ra một cách thuận lợi, như một tất yếu của lịch sử. Kết quả này được sự ngoại hộ của triều đình và được sự ủng hộ của quần chúng, đã phát triển dưới thời Thiền sư Pháp Loa (1284-1330), thành tựu nổi bật là xây dựng trung tâm đào tạo Tăng tài Quỳnh Lâm nổi tiếng.

Giáo sư, Nhà sử học Trần Văn GiàuNghiên cứu về mối tương quan mật thiết giữa Phật giáo và dân tộc, Giáo sư Trần Văn Giàu (1911- 2010) đã nhận định “Bình minh của dân tộc ta đã gắn liền với Phật giáo. Phật giáo là ngọn đuốc văn minh ở xứ ta”.

Tổng hội Phật giáo Việt Nam – cuộc thống nhất Phật giáo lịch sử thứ hai

Cuối thời Trần, đất nước ta lại rơi vào hoàn cảnh bị phương Bắc xâm lăng, với chính sách khốc liệt, Phật giáo là một trong những đối tượng để nhà Minh nhắm vào trong mục đích hủy diệt văn hóa để đô hộ lâu dài.

Nạn phân hóa quyền lực dưới thời vua Lê – chúa Trịnh, rồi bị chia cắt Bắc, Trung, Nam dưới thời Pháp thuộc, nhân tâm loạn ly, Phật giáo cũng chung với số phận của dân tộc, như các nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định, tình hình “không mấy sáng sủa”, nếu không nói là suy thoái.

Nửa đầu thế kỷ XX, một số vị cao tăng nhiều thao thức với tiền đồ của đạo pháp, nổi bật trong đó là Tổ Khánh Hòa (1877-1947) đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, xuất phát từ miền Nam, sau đó lan rộng ra miền Bắc và miền Trung. Trong làn sóng chấn hưng đó, nhiều hội đoàn Phật giáo được thành lập ở cả ba miền.

Tuy cũng có danh xưng Phật giáo, nhưng do sự khác biệt hoàn cảnh và quan điểm, các hội đoàn thời bấy giờ không có sự gắn kết trong một đường hướng chung. Ý thức được điều đó, chư tôn đức giáo phẩm, các vị cư sĩ Phật giáo uy tín đã vận động đi đến sự thống nhất lần thứ hai trong lịch sử Phật giáo VN, qua hội nghị của đại biểu sáu tập đoàn Phật giáo ở miền Nam, miền Trung và miền Bắc tổ chức tại chùa Từ Đàm (Thuận Hóa, nay là Thừa Thiên Huế) năm 1951, thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam (gọi tắt là Tổng hội), suy tôn Trưởng lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1891-1973) làm Hội chủ.

Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ảnh 3

Các đại biểu tham dự Hội nghị thành lậpTổng hội Phật giáo VN tại chùa Từ Đàm – Huế (1951) – Ảnh Tư liệu GN

Tổng hội ra đời đáp ứng được nguyện vọng của tín đồ Phật giáo thời bấy giờ, những ao ước từ hai mươi năm trước đó về một nền Phật giáo VN thống nhất trên toàn quốc. Niềm hoan hỷ của toàn thể tín đồ Phật giáo dâng trào trước sự kiện này, thăng hoa trong nhạc phẩm với hùng tráng và ca từ sâu lắng của nhạc phẩm “Phật giáo Việt Nam” do nhạc sĩ Lê Cao Phan (1923-2014) sáng tác chào mừng, nay đã trở thành Đạo ca của GHPGVN được Hiến chương quy định.

Tổng hội đã suy tôn Hội chủ và Ban Quản trị, các phát ngôn viên ở ba miền là chư tôn đức giáo phẩm có uy tín ở các tập đoàn Phật giáo tại ba miền, ra Bản Tuyên ngôn bày tỏ ý chí về một đường lối chung trong tinh thần cởi mở và phương tiện của Phật giáo Đại thừa. Và để thể hiện đường lối đó, Tổng hội chủ trương thành lập cơ quan ngôn luận là tạp chí Phật giáo Việt Nam.

Về cơ bản, cơ chế Tổng hội tuy thống nhất nhưng sáu tập đoàn Phật giáo thành viên vẫn sinh hoạt tương đối độc lập, vai trò của Tổng hội thiên về đối ngoại các tổ chức Phật giáo trên thế giới. Với cơ chế đó, Tổng hội đã phát huy sức mạnh liên kết, linh hoạt vận động và tạo được sức mạnh tổng hợp, thành lập được các trung tâm đào tạo Tăng tài, hệ thống các Phật học viện, đặc biệt là lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963, tạo nên những dấu ấn lịch sử không chỉ đối với Phật giáo mà cả với dân tộc và thế giới.

Sau Hiệp định Geneve, năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt hai miền, ranh giới là vĩ tuyến 17. Danh nghĩa Tổng hội theo đó cũng không còn trọn vẹn, chỉ hoạt động trên nửa phần đất VN, đó là chưa kể đến những sứt mẻ cũng như sự can thiệp trong ý đồ phân hóa từ các thế lực khác không muốn Phật giáo hoạt động hiệu quả.

Song song đó, từ năm 1960, tại miền Bắc, Tăng Ni Phật tử tại các vùng giải phóng và các vùng tạm chiếm cũ đã tập hợp dưới một tổ chức chung gọi là Hội Phật giáo Thống nhất VN do Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Độ làm Hội trưởng.

Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ảnh 4
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các đại biểu Hội Phật giáo VN, ngày 3-1-1957 – Ảnh: TTXVN

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)

Trong tình hình mới, ngày cuối năm 1963, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, 6 tập đoàn cũ thuộc Tổng hội cùng với 5 tổ chức, tông phái Phật giáo thời bấy giờ đã nhóm họp tại chùa Xá Lợi – Sài Gòn, sau những thảo luận đã cùng đi đến nhất trí quyết nghị thống nhất dưới một tổ chức duy nhất là GHPGVNTN.

Cơ cấu lãnh đạo của GHPGVNTN gồm có hai viện, đó là Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo. Giáo hội cũng đã công bố Hiến chương và chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo hai viện vào ngày 4-1-1964. Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn làm Tăng thống; Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Châu được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo đầu tiên.

GHPGVNTN ra đời được xem là bước tiến, xóa bỏ tính biệt lập các tập đoàn trong cơ chế Tổng hội, đồng thời mở rộng các hệ phái, truyền thống Phật giáo mà trước đó chưa hiện diện trong Tổng hội, như Phật giáo Nam tông.

Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ảnh 5

Ngọn lửa vô úy Bồ-tát Thích Quảng Đức – biểu tượngcủa cuộc đấu tranh bất bạo động chống chính sách kỳ thị tôn giáo năm 1963

GHPGVNTN đặt trụ sở ban đầu tại chùa Ấn Quang. Lãnh đạo tinh thần tối cao là Viện Tăng thống, đứng đầu là Đức Tăng thống. Điều hành mọi hoạt động Phật sự là Viện Hóa đạo với hệ thống các Tổng vụ, chuyên trách từng lĩnh vực như Giáo dục, Hoằng pháp, Văn hóa, Thanh niên, Tài chánh, Kiến thiết…

GHPGVNTN ngay từ lúc thành lập đã tạo nên niềm phấn khởi cho Tăng Ni, tín đồ và thành tựu nhiều Phật sự, nổi bật với Viện Đại học Vạn Hạnh, tiếp tục duy trì và phát triển các Phật học viện, dấn thân vào lĩnh vực giáo dục tư thục, y tế cộng đồng, công tác xã hội… Sự thống nhất này là một dấu son trên con đường vận động thống nhất của Phật giáo VN, đem đến nhiều hoạt động hiệu quả, nhưng cũng chưa trọn vẹn, vì chỉ hoạt động tại miền Nam và chỉ trong những vùng chưa được giải phóng.

Sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), GHPGVNTN vẫn được duy trì hoạt động, cùng với các tổ chức Giáo hội tại miền Bắc cho đến lúc tham dự vào ngôi nhà GHPGVN được thành lập (1981), thực sự thống nhất toàn quốc.

* “Đạo Phật và một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam”, in trong “Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng của dân tộc”, Viện Triết học xuất bản, HN, 1998, trang 15.

“Nguyện vọng thống nhất Phật giáo Việt Nam đã thực hiện qua các thời kỳ, nhưng chưa được trọn vẹn.”- như nhận định trong Lời nói đầu của Hiến chương GHPGVN. Mời bạn đọc xem tiếp kỳ sau để tiếp tục tìm hiểu con đường vận động thống nhất Phật giáo VN – đi đến thành lập GHPGVN.

Sự kiện đầu tiên trong lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam

Chư tôn giáo phẩm cùng nhất tâm đảnh lễ Tam bảo trước phiên khai mạc Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam - Ảnh Tư liệu GN

Chư tôn giáo phẩm cùng nhất tâm đảnh lễ Tam bảo trước phiên khai mạc Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam – Ảnh Tư liệu GN

“Hôm nay, lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có một hội nghị gồm đầy đủ đại biểu các tổ chức, giáo hội, hệ phái Phật giáo trong cả nước: Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ và Phật giáo Khmer, Tăng Ni và nam nữ cư sĩ, già và trẻ, từ mọi miền trên đất nước Việt Nam đã vân tập về đây, trong hội trường trang nghiêm và rực rỡ với một quyết tâm sắt đá: xây dựng hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam”, Hòa thượng tuyên bố.

Như trong nội dung của hai bài trước đã giới thiệu, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã diễn ra nhiều cuộc vận động thống nhất và kết quả là đã đi đến được thống nhất. Tuy nhiên, ngoại trừ sự thống nhất Phật giáo dưới thời nhà Trần, các cuộc thống nhất còn lại đều gặp một số trở ngại do cơ chế, hoặc do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt tạm thời, nên chưa thực sự thống nhất xứng với danh xưng thống nhất toàn quốc, trọn vẹn lãnh thổ của đất nước ta và đầy đủ các thành phần, hệ phái, truyền thống, tổ chức Phật giáo hiện hữu.

Sự kiện đầu tiên trong lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam ảnh 1

Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hà Nội – Ảnh tư liệu GN

“Sự thống nhất thực sự, trọn vẹn và dân chủ”

165 đại biểu thuộc các đoàn của Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam: Hội Phật giáo Thống nhất VN, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM, Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam, Thiên Thai Giáo Quán tông, Hội Phật học Nam Việt, các đại biểu Tăng Ni, cư sĩ tiêu biểu (38 vị giáo phẩm Hòa thượng, 70 vị Thượng tọa, 18 vị Đại đức, 6 vị Ni trưởng, 11 Ni sư, 1 Sư cô, 21 nam, nữ cư sĩ), là những vị tiêu biểu các tông phái, tổ chức mang theo nguyện vọng thống nhất trong một ngôi nhà Giáo hội chung đã cùng vân tập về chùa Quán Sứ, Hà Nội dự Hội nghị từ ngày 4 đến 7-11-1981.

Với vai trò Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng Thích Trí Thủ trong trả lời phỏng vấn Báo Giác Ngộ trước sự kiện này đã bày tỏ ẩn ý thú vị: “Thật là vô lý khi suốt một đời người từ tấm bé đến lúc già nua chỉ mặc có một chiếc áo mà cũng vừa và hợp thời trang hay sao? Đạo Phật là đạo của khế cơ khế lý mà lại đứng yên một chỗ, một hình thái thì thật là kỳ cục và chỉ đưa đến sự hủy diệt mà thôi”. (Báo Giác Ngộ số 131, năm 1981)

Đó cũng chính là điểm gặp gỡ của chư tôn đức giáo phẩm, các vị đứng đầu các Giáo hội, tông phái, hệ phái lúc bấy giờ. Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM cho rằng việc thống nhất Phật giáo là “cơ duyên để củng cố lại tư tưởng gần với Chánh pháp phù hợp với tình cảm của dân tộc…”. Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Tăng thống Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam xác quyết rằng, Phật giáo không thể đứng ngoài lịch sử, “Việc thống nhất Phật giáo sẽ tạo cho Phật giáo có tiếng nói chung, có tổ chức chung và sự đóng góp cho Phật pháp cùng dân tộc sẽ to lớn hơn, mạnh hơn”, Hòa thượng nhận định.

Sau phiên trù bị ngày 3-11-1981, Hội nghị làm việc chính thức trong 4 ngày liên tục tiếp theo với nhiều nội dung, trong đó đặc biệt tập trung thảo luận các văn kiện quan trọng là Dự thảo Hiến chương và Đại cương Chương trình hoạt động của GHPGVN, nghe tham luận của đại diện 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo tham dự; giới thiệu về cơ cấu của Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và Ban Thường trực thuộc cơ cấu Trung ương Giáo hội; suy tôn Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, suy cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN…

“Sau ba lần khiêm nhường thoái thác trước toàn thể đại biểu, nhưng với sự cung kính nhất tâm quy ngưỡng của toàn đại hội, với thái độ trang nghiêm, chư tôn Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận và Hòa thượng Thích Trí Thủ cuối cùng cũng đã hoan hỷ nhận gánh trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội, ngôi nhà chung và thực sự thống nhất của Phật giáo Việt Nam”. Trong niềm xúc động, Hòa thượng Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, là thành viên trẻ nhất trong Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam, đại diện cho hệ phái Phật giáo Khất sĩ hồi tưởng giờ phút thiêng liêng chiều 7-11-1981, tại phiên bế mạc, giới thiệu 50 vị giáo phẩm vào Hội đồng Chứng minh, suy tôn Pháp chủ; tuyên đọc danh sách 49 vị vào Hội đồng Trị sự và suy cử Chủ tịch.

Sau khi thành tựu viên mãn, Hội nghị đã ban hành Nghị quyết gồm 7 điểm, công bố Đại cương Chương trình hoạt động gồm 6 điểm, ra Tuyên bố về trách nhiệm bảo vệ hòa bình thế giới, ra Lời kêu gọi gởi đến toàn thể Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước, xác nhận vai trò GHPGVN kế thừa lịch sử truyền bá giáo lý Phật-đà hơn hai ngàn năm, là tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Niềm vui về sự ra đời của một tổ chức Giáo hội trong ý nghĩa thống nhất thực sự và trọn vẹn lan tỏa không chỉ trong Tăng Ni, Phật tử mà rộng đến cả các giới bên ngoài xã hội.

Nói về sự kiện “ngàn năm một thuở” này, Hòa thượng Thích Thanh Kiểm, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm bộc bạch ngay sau đó, “Việc thống nhất Phật giáo là một nguyện vọng ấp ủ lâu nay của mọi giới Tăng Ni, Phật tử cho nên hội nghị thành công làm cho mọi người vô cùng phấn khởi”. Đại diện cho tôn giáo bạn, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình cũng đã có lời chúc mừng sự thành công của Hội nghị. Nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa Võ An Ninh tin tưởng sự ra đời của GHPGVN sẽ đem đến một sinh khí mới để Phật giáo góp phần xây dựng đất nước, làm vẻ vang cho Phật giáo Việt Nam.

Nhiều vị giáo phẩm tôn túc, cư sĩ là chứng nhân của sự kiện lịch sử trên đã viên tịch, qua đời; một số vị vẫn còn đang tiếp tục các trọng trách của Giáo hội cũng như các công tác khác, như Hòa thượng Thích Thiện Bình, Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Hòa thượng Dương Nhơn, Hòa thượng Danh Nhưỡng, Hòa thượng Thích Giác Toàn, Hòa thượng Thích Thiện Tâm, Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Hòa thượng Thích Trí Tâm, Cư sĩ Tống Hồ Cầm, Cư sĩ Nguyễn Văn Hàm…

Sự kiện đầu tiên trong lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam ảnh 2

Ông Xuân Thủy phát biểu tại Hội nghị – Ảnh Tư liệu GN

Những lời lưu danh muôn thuở

Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam có ý nghĩa lịch sử hết sức lớn lao, là kết quả của một quá trình vận động nhiều tháng trước đó và đáp ứng nguyện vọng của Tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam từ Bắc chí Nam, một số nước hải ngoại. “Nền thống nhất này dựa trên tinh thần dân chủ, lấy tứ chúng đồng tu làm cơ sở, chứ không dựa trên giáo quyền, phong kiến hay quyền lực cá nhân”. Lời khẳng định của Hòa thượng Thích Trí Thủ trong Diễn văn khai mạc cũng là cơ sở về đường lối hoạt động của GHPGVN trong mấy mươi năm qua, để GHPGVN là tổ chức duy nhất xứng đáng đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Xuân Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước, sau khi chia sẻ những kinh nghiệm và ưu tư về đất nước trong bối cảnh thế giới, ông khẳng định “Phật giáo ở Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước”, và ông chúc mừng sự thành công của hội nghị lịch sử này, đồng thời bày tỏ sau Hội nghị Thống nhất, dưới ngôi nhà chung, Tăng Ni và Phật tử “sẽ góp phần cùng với dân tộc viết thêm những trang sử mới huy hoàng”.

Ông Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN tại phiên khai mạc, xác quyết chân lý được lịch sử chứng minh: “Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi nào tôn giáo gắn bó với dân tộc, đoàn kết với nhân dân thì khi đó tôn giáo mới làm sáng tỏ chân lý đạo giáo của mình”. Hội nghị Thống nhất Phật giáo VN là sự kiện lịch sử sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, độc lập và tự chủ; đây là cơ hội để Phật giáo VN phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc của mình.

Trong buổi tiếp đoàn các đại biểu tham dự Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam tại Phủ Chủ tịch ngày 8-11-1981 sau khi Hội nghị thành tựu viên mãn, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, MTTQVN và nhân dân chúc mừng, ông chia sẻ rằng món quà cao quý mà ông thường dành tặng đến các quốc khách nước ngoài là tôn tượng Phật nghìn tay nghìn mắt, tiêu biểu cho Phật giáo Việt Nam. “Trong quá khứ, Phật giáo Việt Nam đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã xác nhận Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo từ bản chất, bản sắc từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo Việt Nam đã góp phần xứng đáng. Đối với Việt Nam, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến đạo Phật, đến những việc làm cao quý, đẹp đẽ của đông đảo Tăng Ni, Phật tử. Đạo Phật ở Việt Nam mang màu sắc dân tộc Việt Nam rõ rệt. Có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc, và trưởng thành cùng dân tộc”.

Lời của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng được đúc kết trong cùng một âm hưởng xác quyết truyền thống của gắn bó của Phật giáo Việt Nam với dân tộc, đó là “hộ quốc an dân”, sự ra đời của GHPGVN là tất yếu lịch sử, kế thừa truyền thống ấy phù hợp với thời đại, như phương châm đã được đưa vào Hiến chương ngay từ ngày thành lập: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.

Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam từ ngày 4 đến 7-11-1981 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội chính là Hội nghị thành lập GHPGVN, đem đến “một nguồn vui vô hạn” và “đánh dấu bước đi mới của Phật giáo Việt Nam…” như lời của Hòa thượng Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự Thích Trí Thủ trong Lá thư xuân Nhâm Tuất – 1982 gửi đến toàn thể Tăng Ni, Phật tử.

Hòa thượng Thích Trí QuảngPhó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Viện trưởng Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM:

Lúc bấy giờ, trước Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam (1981), Hòa thượng Thích Trí Thủ là Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bàn bạc với tôi để cơ cấu phái đoàn tham dự Đại hội. Sau đó đã nhất trí thỉnh Hòa thượng Thích Thiện Siêu – thành viên Viện Tăng thống làm Trưởng đoàn, Hòa thượng Thích Từ Nhơn làm Phó đoàn, tôi làm Thư ký đoàn. Thành phần tham dự còn thỉnh thêm Hòa thượng Thích Chánh Trực (Quảng Trị), Hòa thượng Thích Thanh Trí (Huế) cũng như các vị Chánh đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất các tỉnh thành phía Nam tham gia đoàn.

Giai đoạn đó, khó nhất của Hội nghị là đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở phía Nam vì trong tâm của mỗi người đã muốn thống nhất nhưng cái tình thì nặng lòng. Các phái đoàn thuộc 8 tổ chức Phật giáo khác, theo tôi cảm nhận có dễ hơn, do số lượng ít, đã gắn bó với các phong trào cách mạng.

Tuy nhiên, vào hội nghị rồi thì tất cả cùng gặp gỡ nhau một cách dễ dàng, chỉ thay đổi một số chi tiết cho phù hợp với thời đại xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quần chúng khi nước nhà đã thống nhất. Hội nghị nhất tâm suy tôn Đức Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ. Ngài là vị cao tăng đã được lòng Tăng Ni phía Bắc. Trong thời điểm lịch sử đó, Hòa thượng Pháp chủ đưa ra mấy yêu cầu quan trọng mà ai cũng cảm động, trong đó có vấn đề: “Đã thành lập Giáo hội thì phải mở trường đào tạo Tăng tài, còn không mở trường thì tôi không làm Pháp chủ”. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã đồng ý với những nguyện vọng chính đáng của Phật giáo.

Hội nghị cũng nhất trí suy cử Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự. Ngài là một vị danh tăng đã tích cực lặn lội ba miền vận động thống nhất, được nhiều giới kính trọng. Trong khi làm việc ở Viện Hóa đạo, ngài được xem là vị thầy của Tăng Ni miền Nam lúc bấy giờ, nên suy cử Hòa thượng Thích Trí Thủ vào vị trí lãnh đạo Giáo hội là thích hợp. Hai vị Hòa thượng Phó Chủ tịch Thường trực, đại diện miền Bắc là Hòa thượng Phạm Thế Long (Nam Định), đại biểu Quốc hội, có uy tín với Tăng Ni phía Bắc; Hòa thượng Thích Trí Tịnh đại diện miền Nam, là vị thầy của Tăng Ni, cũng được mọi người kính trọng.

Với uy tín và tầm nhìn của chư vị giáo phẩm đứng đầu Giáo hội như vậy đã tạo thuận duyên, sự đồng thuận của Nhà nước, sự ủng hộ của toàn thể Tăng Ni, Phật tử. Và đó chính là nền tảng vững chắc cho tiến trình phát triển của Giáo hội.

Đình Long lược ghi

Toàn văn báo cáo thành tựu của GHPGVN trong 40 năm kể từ ngày thành lập

I. SỰ RA ĐỜI TỔ CHỨC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (7-11-1981) LÀ MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ TẤT YẾU

Lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Phật giáo đã hòa quyện với văn hóa dân tộc góp phần bảo vệ văn hóa Việt Nam trước các cuộc xâm lăng đồng hóa văn hóa từ phương Bắc. Phật giáo trở thành thành tố văn hóa của dân tộc. Trong giai đoạn Lý – Trần Phật giáo đã góp phần định hình Quốc gia dân tộc, định đô Thăng Long và đóng góp quan trọng vào bang giao quốc tế của các triều đại Việt Nam trong lịch sử. Sự ra đời của Phật giáo Trúc Lâm do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập có thể nói là sự thống nhất các hệ phái đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với tinh thần nhập thế, Phật giáo Việt Nam đã đóng góp công sức làm nên chiến thắng vĩ đại trong lịch sử đấu tranh giải phóng giành độc lập của dân tộc.

Sau ngày 30-4-1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, giang sơn nối liền một dải, Bắc Nam sum họp một nhà. Đây là yếu tố hết sức mãnh liệt và là bối cảnh vô cùng thuận lợi, là động lực để chư Tôn Giáo phẩm, Tăng Ni, Phật tử các tổ chức Giáo hội, Hệ phái thực hiện nguyện vọng, tâm huyết thống nhất Phật giáo mà các thế hệ tiền bối đã dày công tạo dựng. Đây chính là duyên khởi của sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 7-11-1981 tại chùa Quán Sứ – Thủ đô Hà Nội. Đại hội quy tụ 9 tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo trong cả nước:

1. Hội thống nhất Phật giáo Việt Nam.

2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

3. Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.

4. Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Tp. Hồ Chí Minh.

5. Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam.

6. Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán.

7. Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam.

8. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam bộ.

9. Hội Phật học Nam Việt.

Kể từ đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước để thực hiện các hoạt động Phật sự theo hướng đi lên của thời đại, đến nay đã tròn 40 năm, trải qua 8 nhiệm kỳ.

II. THÀNH TỰU PHẬT SỰ 40 NĂM CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

A. SỰ TRƯỞNG THÀNH VỀ MẶT TỔ CHỨC GIÁO HỘI

Khi mới thành lập tháng 11 năm 1981 nhiệm kỳ đầu là thời kỳ xây dựng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm 2 Hội đồng: Hội đồng Chứng minh 50 thành viên, Hội đồng Trị sự 49 thành viên, có 6 Ban ngành Trung ương và 28 Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo hoạt động. Từ nhiệm kỳ II đến nhiệm kỳ V là thời kỳ củng cố và phát triển. Trải qua 40 năm, nhiệm kỳ VII, VIII là nhiệm kỳ kế thừa, ổn định và phát triển bền vững, kiện toàn và đổi mới tổ chức. Hiện nay tổ chức GHPGVN có số lượng 96 thành viên Hội đồng Chứng minh, 225 Ủy viên Hội đồng Trị sự và 45 Ủy viên dự khuyết. Hệ thống tổ chức Giáo hội gồm 13 Ban Viện Trung ương hoạt động chuyên ngành như Tăng sự, Giáo dục Phật giáo, Hướng dẫn Phật tử, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chính, Phật giáo quốc tế, Từ thiện xã hội, Pháp chế, Kiểm soát, Thông tin Truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học. Hệ thống tổ chức Giáo hội thống nhất từ Trung ương đến các địa phương.

Thành tựu nổi bật sau 40 năm về công tác tổ chức Giáo hội là Giáo hội đã thành lập Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Kiện toàn và nâng tầm hệ thống quản lý hành chính Phật giáo cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Giáo hội quản lý 10 Hội Phật tử Việt Nam ở nước ngoài. Tất cả đều hoạt động theo Hiến chương GHPGVN.

B. THÀNH TỰU PHẬT SỰ CÁC BAN NGÀNH VIỆN

1. Công tác Tăng sự

Tăng sự là hoạt động trọng tâm của Giáo hội, sau 40 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý Tăng Ni, Phật tử trên toàn quốc tính đến nay với số lượng 18.544 cơ sở tự viện; 54.169 Tăng Ni, gồm: 40.095 Bắc tông; 7.028 Nam tông Khmer, 08 Tu nữ; 1.754 Nam tông kinh (1.100 chư Tăng, 654 Tu nữ); 5.284 Khất sĩ và hàng chục triệu tín đồ Phật tử tu học thường xuyên tại các cơ sở tự viện; khoảng 60%/93.000.000 dân số là những người yêu mến đạo Phật trong cả nước.

Phật sự nổi bật của Ban Tăng sự Trung ương trong 40 năm qua là tổ chức, quản lý tốt công tác Tăng Ni, tự viện. Hướng dẫn thống kê Tăng Ni, tự viện; thực hiện việc cấp giấy chứng nhận Tăng Ni, An cư kết hạ, thuyên chuyển vùng tu học và sinh hoạt Phật sự, bổ nhiệm trụ trì các tự viện trên cả nước. Hướng dẫn Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố tổ chức hàng trăm Đại Giới đàn, truyền giới cho hàng chục ngàn giới tử.

Ban Tăng sự Trung ương đã tổ chức các hội nghị Tăng sự toàn quốc và các hội thảo khoa học chuyên ngành nhằm đáp ứng được việc quản lý, chấn chỉnh sinh hoạt Tăng Ni, tự viện trong thời kỳ mới. Đặc biệt là Hội nghị Tăng sự chủ đề: Thống kê Tăng Ni, Phật tử ở Việt Nam: Lý luận và Thực tiễn. Hội nghị được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Chư Tôn đức, các Giáo sư, học giả trí thức, các nhà nghiên cứu, đã nêu được những vấn đề cơ bản để giúp cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế và giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo, các nhà hoạch định chính sách xã hội trong định hướng phát triển đất nước.

Sự ra đời của Phân ban Ni giới Trung ương trực thuộc Ban Tăng sự được thành lập tháng 11-2008 hoạt động rất có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực Phật sự, đóng vai trò quan trọng trong thành tựu Phật sự chung của Giáo hội, nhất là công tác từ thiện xã hội.

Ban Tăng sự Trung ương cũng đặc biệt quan tâm đến sự đoàn kết các hệ phái Phật giáo, hỗ trợ các hoạt động Phật sự của Phật giáo Nam tông Khmer, Trung ương GHPGVN đã tổ chức thành công 9 kỳ Hội nghị Chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer tại các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Vĩnh Long.

2. Công tác Giáo dục đào tạo Tăng Ni

Giáo dục và đào tạo Tăng Ni có trình độ Phật học căn bản và nâng cao là một trong những Phật sự trọng tâm của Giáo hội. Do đó, công tác giáo dục luôn được lãnh đạo các cấp Giáo hội quan tâm, chú trọng và tạo điều kiện để giáo dục Phật giáo luôn được phát triển.

Ngay từ khi GHPGVN được thành lập đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN đã đề nghị Chính phủ cho phép thành lập các Trường đào tạo Phật giáo. Ngay trong năm 1981 Trường cao cấp Phật học Việt Nam đã được thành lập tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội. Sau 40 năm, đến nay Giáo hội có 4 Học viện mà tiền thân là Trường Cao cấp Phật học Việt Nam: Học viện Phật giáo tại Hà Nội, Huế, Tp Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp Cần Thơ. Đến nay các Học viện đã đào tạo trên 10.000 Tăng Ni tốt nghiệp Cử nhân Phật học, đang đào tạo trên 3.000 Tăng Ni sinh.

Hệ Cao đẳng Phật học có 9 Lớp Cao đẳng Phật học đã đào tạo hơn 4.000 Tăng Ni sinh tốt nghiệp; và đang đào tạo hơn 1.000 Tăng Ni sinh. Cả nước có 35 Trường Trung cấp Phật học, đã đào tạo trên 12.000 Tăng Ni sinh tốt nghiệp Trung cấp Phật học, đang đào tạo gần 5.000 Tăng Ni sinh. Hầu hết các tỉnh đều mở lớp Sơ cấp Phật học.

Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương đã soạn thảo giáo trình và bộ sách giáo khoa Phật học căn bản phục vụ công tác đào tạo các trường Trung cấp trong cả nước.

Thành tựu nổi bật sau 40 năm của công tác đào tạo Tăng Ni là việc Giáo hội đã chủ động giới thiệu hơn 500 Tăng Ni sinh đi du học tại Ấn Độ, vùng lãnh thổ Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Myanma, Thái Lan, Srilanka… Có gần 300 Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ về nước phục vụ công tác Giáo hội các cấp. Đây là nguồn nhân lực của hệ thống đào tạo Giáo dục Phật giáo của Giáo hội trong thời hiện đại.

Với đội ngũ giảng viên hùng hậu, có trình độ ngang bằng các trường Đại học trong nước và Quốc tế, Giáo hội đã được Nhà nước cho phép đào tạo hệ Cao học Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học tại Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế.

Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định cho phép Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập Viện Trần Nhân Tông cũng là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho Phật giáo trong tương lai góp phần việc thúc đẩy công tác đào tạo Tăng Ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

3. Công tác Hoằng pháp

Ban Hoằng pháp Trung ương là một trong những Ban Viện quan trọng trong tổ chức Giáo hội thực hiện sứ mệnh Hoằng dương Chính pháp, lợi lạc quần sinh đem ánh sáng đạo Phật vào đời sống nhân dân.

Trải qua 8 nhiệm kỳ, công tác đào tạo Cao và Trung cấp Giảng sư tại phía Nam đã đào tạo 11 khóa, điểm học tại chùa Hòa Khánh, TP.Hồ Chí Minh; phía Bắc đang đào tạo Tăng Ni Giảng sư tại chùa Vạn Phúc, TP.Hà Nội. Có trên 1.500 Tăng Ni Giảng sinh tốt nghiệp. Nhiều lớp, nhiều khóa bồi dưỡng Giảng sư Cao cấp và Trung cấp được mở ra để tạo nguồn nhân lực cho công tác hoằng pháp, tìm ra phương thức hoằng pháp phù hợp với từng đối tượng, vùng miền với nhiều hình thức khác nhau; thành lập, thăm viếng, thuyết giảng và nâng cao hiệu quả sinh hoạt của các Đạo tràng, các Câu lạc bộ Phật tử, đa dạng hóa hình thức hoằng pháp.

Ban Hoằng pháp các tỉnh thành khu vực phía Bắc đã nỗ lực hoạt động thuyết giảng cho các Phật tử tại các giảng đường và khóa An cư kết hạ. Chư tôn đức trong Ban Hoằng pháp phối hợp cùng các vị trụ trì tổ chức khóa tu Bát quan trai, Niệm Phật, trì Chú Đại Bi v.v… mỗi giảng đường có từ 200 đến trên 2.000 Phật tử tham dự thính pháp, tu tập.

Tại các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam các đạo tràng, hướng dẫn Phật tử tu tập các khóa tu Niệm Phật, Trì chú Đại Bi, Một ngày an lạc, Bát quan trai v.v.. cùng các lớp giáo lý tại địa phương tương đối đồng bộ và đều khắp, tạo nên tinh thần say mê học Phật trong các giới cư sĩ, Phật tử tại gia mỗi điểm giảng trung bình có từ 300 đến 3.000; có tỉnh nhân mùa Phật đản kết hợp việc thuyết pháp và văn nghệ đã thu hút 10.000 Phật tử thính pháp như TP.Hồ Chí Minh, TP.Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hòa, Kiên Giang, Thừa Thiên Huế…

Với phương châm: Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi bản hoài, các thành quả hoạt động của công tác Hoằng pháp đã góp phần truyền bá giáo pháp Đức Phật đến mọi tầng lớp đồng bào Phật tử, tăng trưởng đạo tâm, phát huy chánh tín, tạo nguồn an lạc, giải thoát, ổn định trong cuộc sống và sự tu tập theo Chánh pháp của người Phật tử tại gia bằng các hình thức hoằng pháp đa dạng, đã thu hút nhiều giới trẻ thanh thiếu niên, sinh viên của các trường Cao đẳng, Đại học v.v… tham gia các hội thi giáo lý, nghe thuyết giảng giáo lý, pháp đàm, pháp thoại. Đặc biệt, công tác Hoằng pháp kết hợp với công tác từ thiện đã đạt được rất nhiều kết quả thiết thực.

Công tác Hoằng pháp hải ngoại cũng được Giáo hội quan tâm và phát triển. Ban Hoằng pháp cùng với Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Phát giáo Quốc tế đã triển khai chương trình hoằng pháp tại hải ngoại. Với nhiều chuyến hoằng pháp Châu âu, Giáo hội đã thành lập được các Hội Phật tử Việt Nam tại Cộng hòa Séc, Liên bang Nga, Đức, Hungary, Ucraina, Ba Lan, Đức, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào …

Đặc biệt, kể từ cuối năm 2019 đến nay, do tình hình dịch Covid-19 kéo dài và diễn biến phức tạp, nên Ban Hoằng pháp Trung ương và các tỉnh đã áp dụng chương trình hoằng pháp Online như thuyết pháp, tọa đàm, lớp học giáo lý, hội nghị Hoằng pháp Online đã có hàng ngàn người tham dự, tạo nên tinh thần học Phật sôi nổi.

4. Công tác Hướng dẫn Phật tử

Công tác hướng dẫn Phật tử ngày càng được đa dạng và làm phong phú hình thức sinh hoạt của Phật tử. Sinh hoạt của Gia đình Phật tử vẫn là một nhu cầu cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt của Phật tử (hiện có 1.061 đơn vị Gia đình Phật tử sinh hoạt trong Giáo hội; 9.343 Huynh trưởng và 53.717 Đoàn sinh). Theo tổng hợp của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, có 1.242 đạo tràng Tu Bát quan trai, 35 đạo tràng Tu thiền, 80 đạo tràng Pháp hoa, 81 đạo tràng Đại Bi, 40 đạo tràng Dược Sư, 698 đạo tràng Niệm Phật, 232 đơn vị tổ chức khóa tu Một ngày an lạc, và hàng trăm lớp giáo lý với hàng triệu Phật tử thường xuyên tu tập tại các Đạo tràng; hình thức Câu lạc bộ Thanh thiếu niên Phật tử sinh hoạt rất sôi động và có hiệu quả, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hiện đại của thời đại kỹ thuật số vào công tác hoằng pháp phù hợp với giới trẻ. Ban Hướng dẫn Phật tử đặc biệt chú trọng đến nhiều tầng lớp, thành phần của xã hội, trong đó tập trung đến lớp thanh thiếu niên và đội ngũ trí thức. Hàng trăm nghìn Phật tử đã tham gia các khóa tu do Ban Trị sự, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng Pháp tổ chức cho thấy nhu cầu tu tập và được hướng dẫn tu tập là rất cao trong xã hội và đòi hỏi Giáo hội phải quan tâm đáp ứng.

Ban Hướng dẫn Phật tử đã tổ chức nhiều hội trại sinh hoạt tại hầu hết các tỉnh thành phố. Trong 40 năm qua, đã tổ chức nhiều hội trại khắp cả nước có hàng chục nghìn thanh thiếu niên đã tham dự các khóa tu mùa hè cho các cháu thanh thiếu niên Phật tử và học sinh đã trở thành một nét đặc sắc đáp ứng nhu cầu giáo dục hè cho các cháu học sinh. Nhiều hội thi giáo lý, các khóa truyền quy y cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, các vùng miền núi và hải đảo được tổ chức. Phong trào tiếp sức mùa thi được tổ chức tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Ngoài ra, phong trào hiến máu nhân đạo, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn… đã được Ban Hướng dẫn Phật tử các tỉnh, thành phố triển khai rất tốt.

Tại các Hội thảo, Hội nghị, hay tổ chức Đại lễ Quy y cho đồng bào Phật tử, nhất là Phật tử các vùng dân tộc, tây nguyên, Ban Hướng dẫn Phật tử đều kết hợp với Ban Hoằng pháp để thuyết giảng Phật pháp và Ban Từ thiện Xã hội để thực hiện các công tác từ thiện, đã thể hiện trọn vẹn tinh thần và bổn phận của người Phật tử tại gia đối với Đạo pháp và xã hội.

5. Công tác Nghi lễ

Kể từ ngày thành lập Giáo hội đến nay, Ban Nghi lễ Trung ương và Ban Nghi lễ các tỉnh thành đã tích cực góp phần vào trang nghiêm các Đàn giới, các nghi lễ khai pháp, tạ pháp tại các Hạ trường, lễ Quy y… Tổ chức thành công 2 kỳ Hội thảo Nghi lễ Phật giáo toàn quốc.

Đại Lễ Phật đản được Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố và quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cũng như tại các Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường đều tổ chức trang nghiêm trọng thể.

Giáo hội đã tổ chức trang nghiêm trọng thể Lễ tang Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ tại Tổ đình Viên Minh, xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội từ ngày 21 đến ngày 24-10-2021 (tức ngày 16 – 19-9-Tân Sửu), tổ chức trang nghiêm lễ tưởng niệm các bậc tiền bối hữu công, chư tôn đức Trưởng lão các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ, chư tôn đức giáo phẩm thành viên Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự GHPGVN, chư Tôn đức Tăng Ni viên tịch thể hiện tinh thần tri ân và báo ân của người con Phật.

Đặc biệt, GHPGVN đã 3 lần đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên hợp Quốc vào năm 2008, 2014, 2019 tại Việt Nam, thành công rực rỡ, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp cho bạn bè quốc tế và khu vực về đất nước Việt Nam, Văn hóa dân tộc và Văn hóa Phật giáo Việt Nam, một Giáo hội Phật giáo Việt Nam duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước.

Nét nổi bật của Ban Nghi lễ trong thời gian qua là tổ chức Đại lễ Cầu siêu quốc gia tưởng niệm anh linh các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang quốc gia và Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố đã đặt vòng hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 và các ngày lễ lớn của dân tộc, của Phật giáo tại nghĩa trang các tỉnh, thành phố. Đặc biệt là giống 3 hồi chuông trống Bát nhã nhân ngày 27-7. Giáo hội kết hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và các tỉnh thành phố tổ chức Đại lễ cầu siêu nạn nhân bị tai nạn giao thông trên toàn quốc.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 với những diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Chính quyền các cấp cùng với các tuyến đầu chống dịch đã từng bước ổn định tình hình dịch bệnh, khắc phục, phục hồi kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân. Để chia sẻ những đau thương mất mát trong đại dịch, Giáo hội đã kêu gọi Chư Tôn đức Tăng Ni các tự viện tụng kinh cầu nguyện Quốc thái Dân an, cầu nguyện cho đại dịch sớm qua và cầu siêu cho những nạn nhân tử vong vì dịch bệnh.

6. Công tác Văn hóa

Với chức năng và nhiệm vụ được giao, bằng tinh thần và trách nhiệm, trong 40 năm qua, Ban Văn hóa Trung ương đã thực hiện một số công tác văn hóa trọng tâm như:

Về công tác trùng tu, xây dựng cơ sở Phật giáo: Được sự giúp đỡ của các cơ quan lãnh đạo Trung ương và địa phương có liên quan, công tác trùng tu, kiến tạo hàng nghìn cơ sở Tự viện Tổ đình, danh lam thắng cảnh của Phật giáo cả nước được tiến hành có kết quả, nhất là các cơ sở tại vùng biên giới và hải đảo, góp phần trang nghiêm cơ sở tại địa phương, tạo thêm vẻ mỹ quan cho xã hội. Có 257 Tự viện được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, hàng trăm Tự viện được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh, thành. Đặc biệt xây dựng các ngôi chùa tại biên giới hải đảo như chùa Bản Giốc, chùa Tà Lùng tỉnh Cao Bằng, chùa Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn, tại Phú Quốc, tại Côn Đảo và các ngôi chùa tại quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, có nhiều công trình lớn được trùng tu xây dựng và khánh thành như Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội (huyện Sóc Sơn); Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh (cơ sở Lê Minh Xuân), Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế; Khánh thành giai đoạn 1 và đưa vào sử dụng công trình Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp. Cần Thơ; công trình xây dựng trụ sở Văn phòng như Trụ sở Văn phòng Trung ương Giáo hội – Chùa Quán Sứ, Hà Nội; Văn phòng 2 TWGH – Thiền viện Quảng Đức; nhiều trụ sở Ban Trị sự các tỉnh thành và Trung tâm văn hóa Phật giáo tại các tỉnh, thành đã được xây dựng mới.

Tạp chí Văn hóa Phật giáo; Ấn phẩm Văn hóa Phật giáo Việt Nam của Ban Văn hóa Trung ương; Tạp chí Nghiên cứu Phật học của Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; Tạp chí Nghiên cứu Phật học Khuông Việt; Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy của Phật giáo Nam tông; Tuần báo Giác Ngộ, Nguyệt san Giác Ngộ, các số báo đặc biệt như báo Xuân, báo Phật đản, Vu Lan, Thành đạo được đọc giả đánh giá cao về mặt nội dung và hình thức. Trang báo điện tử của Trung ương GHPGVN, Giác Ngộ Online, Ban Hoằng pháp Trung ương, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, Ban Văn hóa, Ban Thông tin – Truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trung tâm văn hóa Liễu Quán (Thừa Thiên Huế) và nhiều trang web của Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố đã đưa nhiều thông tin về các hoạt động của Giáo hội các cấp.

Nhân các sự kiện Đại lễ Phật đản, Đại lễ kỷ niệm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc, các Đại lễ lớn của Giáo hội, đã tổ chức triển lãm những hình ảnh hoạt động Phật sự chuyên ngành được đông đảo Tăng Ni, Phật tử, sinh viên, học sinh, học giả, nhà nghiên cứu tham gia.

Từng bước triển khai thực hiện 4 đề án: Pháp phục Phật giáo Việt Nam, Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, Ngôn ngữ Phật giáo Việt Nam và Di sản Văn hóa Phật giáo Việt Nam. Tổ chức các đoàn thăm viếng, làm việc với Ban Trị sự, Ban Văn hóa Phật giáo tại các tỉnh, thành phía Bắc, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông và miền Tây. Tổ chức thành công nhiều hội thảo Văn hóa Phật giáo toàn quốc và triển lãm Văn hóa Phật giáo, và tổ chức lễ hội Phật giáo vùng miền.

Nhiều con đường được mang tôn danh các vị Quốc sư, Thiền sư, các bậc danh Tăng có nhiều cống hiến cho Đạo pháp và Dân tộc như: Thiền sư Vạn Hạnh, Quốc sư Khuông Việt, Sư Liễu Quán, Sư Thiện Chiếu, Thích Quảng Đức, Sư Minh Nguyệt, Thích Thuận Đức, Thích Thế Long, Ni sư Huỳnh Liên, Cư sĩ Lê Đình Thám, Nhất Chi Mai, v.v…

7. Hoạt động của Ban Kinh tế Tài chính

Ban Kinh tế tài chính đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động phù hợp giữa đạo với đời trong hoạt động kinh tế Phật giáo.

Hằng năm, Ban Kinh tế Tài chánh Trung ương đều có thông bạch vận động các Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh thành, Tăng Ni, Phật tử, các doanh nghiệp cúng dường công đức phí cho các hoạt động của Trung ương Giáo hội và địa phương. Bên cạnh đó, Ban Kinh tế Tài chính đã cố gắng thành lập một số công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch, hệ thống phòng phát hành kinh sách, cung cấp nguồn hàng văn hóa phẩm Phật giáo đến các cơ sở Tự viện.

Ban kinh tế đã nỗ lực đảm bảo nguồn tài chính trong việc tổ chức các Hội nghị, Đại hội, Đại lễ lớn của Giáo hội.

Hoạt động nổi bật nhất của Ban Kinh tế Tài chính Trung ương vẫn là công tác từ thiện xã hội. Với sự hỗ trợ của Tập đoàn Vingruop, Quỹ Thiện Tâm, Ban Kinh tế Tài chính Trung ương đã ủng hộ nhiều máy thở Oxy, phòng áp lực tâm, lò hỏa táng từ thiện, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, đồng bào bị khó khăn do đại dịch.

8. Công tác Từ thiện xã hội

Là một trong những công tác Phật sự trọng yếu của Giáo hội, công tác từ thiện và sự nghiệp chăm lo an sinh xã hội đã được Giáo hội chỉ đạo Tăng Ni, Phật tử và các chùa, tự viện các thành viên thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời. Công tác từ thiện tập trung vào các hoạt động của các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người già cô đơn, người tàn tật với hàng trăm cơ sở hoạt động.

Giáo hội hiện có trên 160 Tuệ Tĩnh đường, 700 phòng chẩn trị Y học Dân tộc, 1 phòng khám Đa khoa đang hoạt động có hiệu quả, khám và phát thuốc miễn phí cho hàng chục ngàn lượt bệnh nhân.

Giáo hội luôn có mặt đúng lúc và kịp thời cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt và tham gia tích cực ủng hộ phong trào xóa đói giảm nghèo, chăm sóc các đối tượng người có công với đất nước. Phát quà từ thiện, xây cầu, làm đường, phát xe lăn, hiến máu nhân đạo, quỹ khuyến học, ủng hộ các chiễn sĩ biển đảo bám biển Hoàng Sa, Trường Sa của Tổ quốc… kết quả công tác từ thiện xã hội mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng, số liệu tổng kết trong 40 năm qua ước tính khoảng gần 20.000 tỷ đồng. Ngoài ra, Giáo hội đã tổ chức thực hiện cứu trợ nhân đạo quốc tế trước các thảm họa thiên tai động đất, sóng thần tại Nhật Bản, Nepal, Indonesia…và gần đây nhất, trong làn sóng đại dịch Covid-19, Giáo hội đã ủng hộ lương thực, trang thiết bị vật tư y tế cho nhân dân Lào, Campuchia, Ấn Độ, Nepal…trong công tác phòng chống dịch.

Ngoài những công tác từ thiện nêu trên, những công tác phúc lợi xã hội như xây dựng các trường mầm non, trường nuôi dạy trẻ em mồ côi, khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc màu da cam cũng được nhân rộng và phát triển đúng hướng, góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho gia đình các em và cho xã hội. Xây nhiều cây cầu bê tông, đắp đường giao thông nông thôn, đóng giếng nước sạch, hiến máu nhân đạo, đóng góp các quỹ từ thiện vì người nghèo, học sinh hiếu học, giúp phụ nữ nghèo vượt khó, tặng xe đạp cho học sinh, xe lăn, xe lắc cho bệnh nhân nghèo, tặng xuồng ghe, hỗ trợ áo quan, hỗ trợ mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân nghèo bị đục thủy tinh thể, bệnh tim nhi, phát quà tết, quà trung thu cho các cháu thiếu nhi, nồi cháo tình thương, bữa ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa, siêu thị không đồng, chương trình “Sóng và máy tính cho em” v.v… đều được các thành viên Ban Từ thiện xã hội Trung ương, các tỉnh thành, các cơ sở tự viện, Tăng Ni, Phật tử tích cực tham gia.

Trong đại dịch Covid-19 bùng phát tại Việt Nam từ cuối năm 2019 đến nay, Giáo hội đã có nhiều thông bạch vận động Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố, Tăng Ni, Phật tử các Tự viện tích cực tham gia phòng chống dịch bằng nhiều hình thức như ủng hộ lương thực, thực phẩm, vật tư y tế, v.v… cho đồng bào vùng phong tỏa, cách ly và những người tuyến đầu phòng chống dịch hoặc lấy cơ sở tự viện làm điểm cách ly tập trung cho bệnh nhân Covid; Nhiều Tăng Ni, Phật tử đã tham gia vào tuyến đầu, chăm sóc bệnh nhân nhiễm Covid tại các bệnh viện dã chiến. Hưởng ứng vận động của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận các tỉnh, thành phố, Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh thành đã ủng hộ vào quỹ Vaccine, máy thở, máy tạo oxy, thiết bị y tế cho công tác phòng chống dịch trị giá hàng chục tỷ đồng.

9. Công tác đối ngoại Phật giáo quốc tế

Ngay từ khi mới thành lập, GHPGVN được thừa hưởng mối bang giao quốc tế của Chư vị tiền bối với tư cách là thành viên sáng lập Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới, thành viên tích cực tham gia vào tổ chức Phật giáo quốc tế như Hội Phật giáo châu Á vì Hòa bình (ABCP), bang giao với các nước Phật giáo Mông Cổ, các nước thuộc Liên Xô cũ, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước Phật bạn Lào, Campuchia anh em. Trong 40 năm qua từ chỗ không chủ động trong các mối quan hệ bang giao Phật giáo quốc tế, GHPGVN đã tích cực thể hiện sự chủ động và khẳng định vai trò của mình trong hội nhập quốc tế. Giáo hội đã trở thành thành viên của các tổ chức Phật giáo lớn trên thế giới: Thành viên sáng lập Liên Minh Phật giáo thế giới (Ấn Độ), Hội Phật giáo Thế giới truyền bá Chánh pháp, Hội đệ tử Như Lai Tối thượng (Sri Lanka), Ủy ban Quốc tế Đại lễ Vasak Liên Hợp Quốc (Thái Lan), Ủy ban Đại học và Cao đẳng Phật giáo Thế giới tại Thái Lan, thanh viên Hội Sakyadhita thế giới, cũng như lãnh đạo Hội Phật tử Việt Nam tại Nga, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào và các nước Châu âu như Cộng hòa Séc, Đức, Hungary v.v…; Giáo hội đã thành lập Phân ban Phật giáo châu Á vì Hòa bình Việt Nam (ABCP Việt Nam) thuộc Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương GHPGVN.

Thông qua việc tổ chức các đoàn của GHPGVN đi thăm viếng Phật giáo các nước, cũng như đón tiếp các phái đoàn Phật giáo các nước tăng cường tình hữu nghị và làm sâu sắc mối quan hệ quốc tế.

Nhằm trao đổi kiến thức và giao lưu về mặt học thuật trên diễn đàn Phật giáo quốc tế GHPGVN đã cử đoàn tham dự rất nhiều Hội nghị, hội thảo quốc tế tại các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ…. Đặc biệt, đoàn đại diện GHPGVN đã tham dự 8 lần Đại lễ vesak Liên Hợp Quốc tại Thái Lan và 2 lần Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc tại New York (Hoa Kỳ).

Với quyết tâm và nỗ lực của mình, GHPGVN còn đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc năm 2008 (tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội), năm 2014 (tại chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình), năm 2019 (tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Tam Chúc, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) với sự hiện diện của gần 112 quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới, với sự tham dự của các vị Tăng vương, Tăng thống, Chủ tịch và Lãnh đạo các Giáo hội, hệ phái Phật giáo, các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, nhân sĩ trí thức học giả Phật giáo; Các nguyên thủ quốc gia: Tổng thống Myanmar, Thủ tướng Srilanka, Thủ tướng Nepal, Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện Ấn Độ, Chủ tịch Thượng viện Bhutan và Phó Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc. Các quan chức Bộ trưởng của các nước sẽ tham dự Đại lễ; Các Đại sứ và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đã tham dự; Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tham dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc, bế mạc, phát biểu tại lễ cầu nguyện hòa bình thế giới v.v…; Lãnh đạo GHPGVN: Đức Đệ nhất Phó Pháp chủ, Chư tôn Trưởng lão Phó Pháp chủ, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, Lãnh đạo Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự; Lãnh đạo các Ban, Viện Trung ương GHPGVN; Lãnh đạo các Ban Trị sự GHPGVN 63 tỉnh, thành phố trong cả nước; các Tăng Ni, Phật tử tiêu biểu tham dự. Các Học giả, Giáo sư, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã tham dự và phát biểu tại hội thảo.

Đại lễ Vesak tại Việt Nam đạt nhiều thành quả tốt đẹp qua cái nhìn đầy khâm phục của các nước Phật giáo và các tổ chức quốc tế về Việt Nam nói chung, GHPGVN nói riêng. Đây là thành tựu nổi bật nhất trong sứ mệnh hội nhập quốc tế của GHPGVN.

Giáo hội cũng đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ XI tại Nhà truyền thống Văn hóa Phật giáo TP.Hồ Chí Minh.

Thành tựu Phật giáo Quốc tế còn đánh dấu qua việc nhận lời mời của GHPGVN Thủ tướng cộng hòa Ấn Độ Naran Da Moni thăm trụ sở Trung ương GHPGVN tháng 9-2016 và trong tuyên bố chung của Thủ tướng 2 nước đã có điều khoản Ấn Độ cấp học bổng cho Tăng Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam học tập và nghiên cứu tại Ấn Độ. Qua đó, khẳng định vai trò của GHPGVN trong hoạt động đối ngoại nhân dân. Chư tôn đức Lãnh đạo GHPGVN đã tham gia đoàn của Chủ tịch nước thăm hữu nghị chính thức Campuchia năm 2014, tham gia đoàn của Tổng Bí thư thăm chính thức Hợp chủng quốc Hòa Kỳ năm 2015.

10. Pháp chế, Kiểm soát

Ban Pháp chế, Ban Kiểm soát là một trong ba Ban mới được thành lập tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (2012). Với chức năng chuyên ngành, Ban Pháp chế và Ban Kiểm soát Trung ương đã tham mưu cho Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Văn phòng Trung ương Giáo hội trong công tác giải quyết các vấn đề khiếu nại, tố cáo liên quan đến nhân sự, Tăng Ni, Tự viện.

Trên tinh thần trách nhiệm, Ban Pháp chế và Ban Kiểm soát Trung ương đã tham dự Hội nghị Sinh hoạt Giáo hội, các phiên họp giao ban của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Văn phòng Trung ương Giáo hội; trực tiếp tham mưu, đóng góp ý kiến với Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Văn phòng Trung ương Giáo hội trong các công tác Phật sự.

Để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về công tác Pháp chế, công tác Kiểm soát với Ban Pháp chế, Ban Kiểm soát địa phương, cũng như triển khai Nội quy, chương trình hoạt động của Ban, Ban Pháp chế và Ban Kiểm soát đã tổ chức các phiên họp Thường trực và Hội nghị chuyên đề.

Ban Pháp chế, Ban Kiểm soát các tỉnh, thành phố đều tích cực hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ được Ban Trị sự GHPGVN các cấp giao phó, góp phần ổn định tình hình sinh hoạt Tăng Ni, tự viện tại địa phương.

11. Thông tin – Truyền thông

Ban Thông tin Truyền thông được thành lập tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII năm 2012. Đến nay đã trải qua 2 nhiệm kỳ thành lập, nhưng các hoạt động thông tin truyền thông của Giáo hội rất thường xuyên, liên tục cập nhật đưa các thông tin Phật sự kịp thời và rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Nét nổi bật trong công tác Phật sự của Ban Thông tin – Truyền thông Trung ương là sự kiện tổ chức các khóa Bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin truyền thông toàn quốc tại Quảng Ninh, Hà Nội, Huế và tại TP.Hồ Chí Minh.

Nhiều sự kiện khủng liên quan đến cơ sở Tự viện, Tăng Ni được đăng tải trên các nhật báo, báo điện tử hoặc phát sóng trên các kênh truyền hình, Ban Thông tin Truyền thông đã có những cuộc trao đổi, những phản ánh, đề nghị quý báo, quý đài sử dụng từ đúng mực, tránh việc câu khách, giật gân ảnh hưởng đến uy tín chung của giới tu hành và có những định hướng để các báo thực hiện tác nghiệp.

Đặc biệt, trong thời đại kỷ thuật số 4.0 Ban Thông tin – Truyền thông Trung ương đã kịp thời cập nhật, hướng dẫn Ban Thông tin – Truyền thông các tỉnh, thành phố cập nhật và triển khai nhiều chương trình hoạt động thông qua hình thức trực tuyến.

Nổi bật nhất, là Cổng thông tin Văn phòng Trung ương Giáo hội (kênh Truyền hình trực tuyến Phật sự Online) được thành lập ngày 8-10-2018, do Thượng tọa Thích Minh Nhẫn – Ủy viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN làm Tổng Biên tập. Phật Sự Online với chủ trương “Nhanh chóng – Kịp thời – chính xác và Nhân văn” đăng tải các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội và các tự viện trong cả nước cùng các chương trình tu học, thuyết giảng của chư Tôn đức Tăng, Ni giảng sư được truyền hình trực tiếp (livestreaming) trên mạng xã hội: Facebook, Youtube, Phật Sự Online về các sự kiện Phật sự và trên 15 chương trình khác với mục đích “Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh Hoằng pháp…”. Qua đó, đã truyền tải rất nhiều thông tin, hoạt động Phật sự của Trung ương và các tỉnh, thành.

12. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

Trong 40 năm qua, Viện và Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam in ấn, dịch thuật hoàn tất 5 bộ Nikaya, 4 bộ A Hàm và một số Kinh thuộc Tiểu bộ. Đã và đang hiệu đính các bộ Đại thừa thuộc Hán tạng. Phát hành hàng trăm đầu sách thuộc các thể loại như kinh, luật, luận, sử Phật giáo Việt Nam và sử Phật giáo thế giới.

Các trung tâm của Viện nghiên cứu Phật học: Trung tâm Phật học Hán truyền, trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Thiền Phật giáo Nam tông, Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thiền học Bắc truyền, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Phật học, Trung tâm Nghiên cứu Pali học, Ban phiên dịch Anh ngữ đã và đang phiên dịch, ấn hành các bản Kinh, các tác phẩm nghiên cứu Phật học, sưu tập, biên soạn đề cương đề tài nghiên cứu, v.v… đáp ứng nhu cầu đọc, tụng, tìm hiểu của Tăng Ni, Phật tử, các nhà học giả trong và ngoài nước.

Tổ chức và tham dự nhiều cuộc Hội thảo khoa học như hội thảo Thiền uyển tập anh, Bồ-tát Quảng Đức, Sư Thiện Chiếu, Phật giáo thời đại mới cơ hội và thách thức, Thiền sư Trần Thái Tôn, Phật hoàng Trần Nhân Tông – Phật giáo đời Trần, Quốc sư Khuông Việt, chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội qua các thời kỳ. Ngoài ra Viện Nghiên cứu còn tham dự nhiều hội thảo, hội nghị tại các nước như: Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka, Trung Quốc, Đài Loan, Pháp, Đức, Mỹ, v.v… với những đóng góp tham luận có giá trị quốc tế.

Phân viện Nghiên cứu Phật học phụ trách tạp chí Nghiên cứu Phật học xuất bản đều đặn 2 tháng một kỳ, góp phần phát huy tính trong sáng và tích cực của giáo lý Đạo Phật, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu Phật pháp của Tăng Ni, Phật tử cũng như các nhà Nghiên cứu Phật học.

Đặc biệt, trong nhiệm kỳ VIII, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã biên soạn bộ Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học sớ giải, Văn học tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v… “Có thể nói, Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam hoàn chỉnh, không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam mà còn giúp cho người Việt Nam không biết các cổ ngữ Phật giáo, có thể tiếp cận lời Phật dạy bằng tiếng Việt, nhằm đạt được trí tuệ do nghe chân lý Phật (P. Sutamayapaññā, Văn tuệ), trí tuệ do nghiền ngẫm chân lý Phật (P. Cintāmayapaññā, Tư tuệ) và trên nền tảng này, tiếp tục đạt được trí tuệ do thực hành thiền chỉ, thiền quán (P. Bhāvanāmayapaññā, Tu tuệ). Xuất bản Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam không chỉ là niềm mơ ước của Tăng Ni và Phật tử Việt Nam mà còn tạo thuận duyên cho 97 triệu người Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam ở hải ngoại có cơ hội học Phật, tu Phật bằng tiếng Việt, để diệt trừ tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ, vốn là nhân khổ đau, đồng thời, trải nghiệm an vui, hạnh phúc bây giờ và tại đây, góp phần làm cho Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu, mạnh và phát triển bền vững”. (Trích lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn – Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN).

C. CÔNG TÁC XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, thiết thân cùng xã hội, hiện hữu trong lòng dân tộc, quyết tâm giữ vững tinh thần độc lập dân tộc, phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật, đồng thời, để phát huy vai trò thành viên trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện hữu hiệu phương châm hoạt động của Giáo hội “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, các thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp, Tăng Ni và Phật tử cả nước đã tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào ích nước lợi dân, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi sinh, môi trường sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn khu dân cư, tham gia tích cực vào phong trào quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Tham gia góp ý dự thảo xây dựng các dự án luật, trong đó đặc biệt là dự án Luật tín ngưỡng tôn giáo; Tham dự Hội nghị quán triệt nội dung Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc; Tham gia phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; Liên kết với Ủy ban an toàn giao thông Quốc gia trong việc vận động Tăng Ni, Phật tử thực hiện nếp sống văn hóa giao thông, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo trong các lễ hội tôn giáo tại địa phương.

Với trách nhiệm và bổn phận của công dân đất nước, Trung ương Giáo hội và Giáo hội Phật giáo các cấp đã vận động Tăng Ni, Phật tử tham gia tích cực công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp. Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành đã giới thiệu Tăng Ni, Phật tử tiêu biểu ứng cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp qua các kỳ.

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các đại diện thành viên của Giáo hội từ Trung ương đến địa phương đều tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 từ cuối năm 2019 đến nay, hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh thành, Trung ương Giáo hội và GHPGVN các cấp, Tăng Ni, Phật tử trong toàn Giáo hội đã tích cực tham gia công tác phòng chống dịch như: Tham gia tuyến đầu phòng chống dịch, đóng góp vào quỹ Vaccine, hỗ trợ đồng bào vùng dịch, phong tỏa, cách ly, v.v…

Nhìn chung, Tăng Ni và Phật tử luôn giữ vững lập trường, phát huy truyền thống đoàn kết, hòa hợp, độc lập dân tộc, theo hướng đi lên của thời đại, góp phần xây dựng xã hội Việt Nam văn minh, tiến bộ, giàu mạnh.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được Đảng Nhà nước trao tặng 2 lần Huân Chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập Hạng nhất. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử trên toàn quốc.

III. TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Nhân loại chúng ta đang ở trong quá trình hội nhập quốc tế, hợp tác, phát triển vì hòa bình và sự thịnh vượng chung. Thành tựu của cuộc CMCN 4.0, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá phát triển trên nhiều lĩnh vực và phương thức hợp tác, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với con người, với mọi quốc gia, dân tộc. Đồng thời, nhân loại cũng đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo do tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh, mâu thuẫn, xung đột, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt trước nhiều thách thức cạnh tranh khu vực sâu sắc.

Đất nước ta, sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đang có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao trên thế giới. Song, trong bối cảnh tình hình chung, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, cũng đặt ra nhiều thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, với truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội để vững bước trong sự nghiệp chung chăm lo cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng đất nước hướng đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam trở thành nước phát triển, hùng cường, thịnh vượng.

Định hướng phát triển trong thời gian tới, Tăng Ni, Phật tử các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam nỗ lực phấn đấu theo định hướng mục tiêu sau đây:

Một là, tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hợp Tăng Ni, Phật tử các sơn môn, hệ phái trong Giáo hội. Phát huy trí tuệ, giữ vững kỷ cương, giới luật, lấy nguyên tắc lục hòa cộng trụ, vận dụng tứ nhiếp pháp trong điều hành và triển khai các hoạt động Phật sự ở tất cả các cấp Giáo hội nhằm xây dựng, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam vững mạnh trong lòng dân tộc và hội nhập quốc tế theo lý tưởng: Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội.

Hai là, Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, tích cực xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, hưởng ứng, tham gia các phong trào thi đua ích nước, lợi dân, ích đạo, lợi đời, chung tay cùng đồng bào và Nhân dân cả nước phấn đấu cho mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ba là, lấy sự nghiệp truyền bá chân lý giác ngộ của Đức Phật phụng sự vì phúc lợi, vì an lạc, vì hạnh phúc cho nhân loại là trách nhiệm phổ quát, cao quý của mỗi Tăng Ni và các cấp Giáo hội. Luôn luôn đổi mới, sáng tạo trong sự nghiệp hoằng dương chính pháp, trong phương thức hướng dẫn đồng bào Phật tử phù hợp và đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp trong xã hội, phù hợp với xã hội hiện đại góp phần làm đẹp nền đạo đức xã hội. Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo trở thành kênh hoằng pháp và chuyển tải các hoạt động Phật sự vào đời sống xã hội nhằm nêu cao giá trị từ bi, trí tuệ của đạo Phật, hình ảnh tốt đẹp của Tăng Ni, Phật tử, của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp trong sự nghiệp phụng đạo, yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, tập trung giáo dục đào tạo Tăng Ni có đạo hạnh mô phạm, uyên thâm về giáo lý, giữ gìn tinh hoa, cốt lõi của giáo lý Phật giáo, vừa am hiểu lịch sử dân tộc, trang bị đầy đủ kiến thức xã hội, vừa thâm nhập thực chứng trong tu tập, vừa có đầy đủ năng lực truyền tải giáo lý ứng dụng vào đời sống của quảng đại quần chúng và đồng bào Phật tử nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội đương đại.

Năm là, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam. Đảm bảo có sự tiếp nối giữa truyền thống và hiện đại, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay. Đồng thời, đẩy mạnh công tác nghiên cứu Phật học và nâng cao học thuật, tập trung nghiên cứu có định hướng và làm nổi bật tinh hoa, bản sắc của Phật giáo Việt Nam.

Sáu là, tăng cường và làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với cộng đồng Phật giáo thế giới. Mở rộng quan hệ quốc tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong hoạt động đối ngoại đa phương, ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân. Chủ động, tích cực trong quan hệ đối ngoại với các tổ chức Phật giáo thế giới, với các tổ chức Giáo hội Phật giáo các nước, với các tổ chức tôn giáo thế giới vì hòa bình. Kết nối chặt chẽ với các Hội Phật tử Việt Nam ở nước ngoài và đẩy mạnh sự nghiệp chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Bảy là, phát huy tinh thần từ bi của đạo Phật, Tăng Ni, Phật tử tích cực tham gia công tác an sinh xã hội, từ thiện và hoạt động nhân đạo. Bên cạnh việc cứu trợ đồng bào bị ảnh hưởng do thảm họa thiên tai, nghèo đói, công tác từ thiện xã hội tập trung vào nâng cao năng lực để tham gia vào các lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, dịch bệnh…như xây dựng các công trình phúc lợi, nhà tình nghĩa, bảo hiểm xã hội, tham gia vào lĩnh vực giáo dục, y tế cộng đồng.

Tám là, nâng cao năng lực quản trị hành chính của Giáo hội. Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật số thời đại 4.0 cải cách hành chính của Giáo hội ở tất cả các cấp, các chùa và cơ sở tự viện. Xây dựng và đẩy mạnh mô hình Giáo hội kiến tạo phát huy sáng tạo của Tăng Ni, Phật tử phát triển Giáo hội nhập thế mạnh mẽ, phụng sự nhân sinh. Đồng thời, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác giám sát, kiểm soát các hoạt động Phật sự, quản lý tự viện, sinh hoạt của Tăng Ni theo đúng giới luật Phật chế, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và pháp luật Nhà nước.

Trên đây là tầm nhìn và những định hướng lớn phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước bối cảnh của thế giới và đất nước trong thời kỳ đổi mới. Với tinh thần đại hoan hỷ, đại đoàn kết của Tăng Ni, Phật tử trước những thành tựu to lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong chặng đường 40 năm hội nhập và phát triển cùng đất nước, chắc chắn các cấp Giáo hội sẽ thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tập chung tổ chức thành công Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp cơ sở trong năm 2021, tiến tới tổ chức thành công Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp tỉnh năm 2022 và Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ IX (2022-2027) làm nền tảng vững chắc phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn mới và thời kỳ tiếp theo hướng đến tầm nhìn năm 2045.

Quảng Hiếu

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here